Hiển thị các bài đăng có nhãn Ảnh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ảnh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 27 tháng 3, 2019

Tập tành chụp ảnh: Chế độ chụp thủ công

Ở bài trước đã có thể hình dung được các khái niệm chính của máy ảnh: khẩu độ, tốc độ màn trập, ISO.

Trong bài này sẽ chi tiết thêm một chút, việc cần làm là gạt cần sang chế độ manual trên body máy :p, đọc bài viết và thử nghiệm.

KHẨU ĐỘ (APETURE)

Ta có thể quan sát ở mặt ống kính, khi mở/đóng khẩu thì lỗ tròn (lỗ khẩu) sẽ to ra hoặc nhỏ đi.
Khẩu mở rộng sẽ đưa ánh sáng vào nhiều hơn. Khẩu đóng hẹp thì ít ánh sáng đi qua.



Bối cảnh: 
Khi có quá nhiều ánh sáng, ta cần đóng bớt khẩu để cân bằng lại.
Khẩu nhỏ cũng có nghĩa là nhiều phần trong khung cảnh chụp sẽ được focus, phù hợp với chụp phong cảnh.
Với khẩu rộng, khung cảnh chụp sẽ bị focus tụ lại một số chỗ, thường là ngay trước gần ống kính.
Với những bức hình chụp xóa phông, chụp chân dung, các phần hậu cảnh bị làm mờ là do hiệu ứng của khẩu rộng (còn một số yếu tố khác như dùng ống kinh viễn cũng gây ra hiệu ứng này).

Khẩu độ được biểu thị theo ký hiệu f.
F, tiếng anh là Fractional là phần (phân số).
Vd: f/8 ~ nôm na là kích thước khẩu đem chia cho 8 ~ 1/8.
f/2.2 ~ nôm na là kích thước khẩu đem chia cho 2.2 ~ 1/2..2

Như vậy f/x, x càng lớn thì khẩu càng nhỏ vì nó bị chia đi một khoảng rất nhiều.
f/2.2 - khẩu lớn hơn > f/8

Khi mua ống kính, chỉ số ghi trên ống kính sẽ là chỉ số khẩu lớn nhất ống kính đó có thể đạt được.
Ví dụ: 50mm f/1.8 - ống kính có độ dài tiêu cự là 50mm, khẩu độ lớn nhất là f/1.8, có thể chỉnh khẩu nhỏ hơn lại.

Chốt:
  • Với khẩu rộng, như f/1.8, sẽ cho nhiều ánh sáng đi qua và giảm hiệu ứng độ sâu trường ảnh (ảnh bị ít focus, hoặc focus ở một số phần).
  • Với khẩu hẹp, như f/22, cho focus rộng và sâu hơn, nhưng ít ánh sáng đi qua.
TỐC ĐỘ MÀN TRẬP (SHUTTER SPEED)
Khi nhấn nút chụp, các lá khẩu sẽ mất một khoảng thời gian để đóng lại (để rồi quá trình hình thành ảnh diễn ra). Khoảng thời gian để các lá đóng lại này gọi là tốc độ màn trập.
Tốc độ màn trập thường được biểu thị theo dạng phần của một giây, nếu muốn chụp các vật chuyển động nhanh, cần set vào khoảng 1/300, chụp vật tĩnh thì chỉ cần 1/30.

Khi tăng tốc độ màn trập cũng là giảm thời gian cảm biến được phơi sáng.

Cảm biến được phơi sáng lâu hơn, nó sẽ nhận được nhiều ánh sáng hơn. Phù hợp khi chụp trong điều kiện thiếu sáng.
Cảm biến cũng dễ bị ảnh hưởng của chuyển động và có thể gây ra hiệu ứng mờ chuyển động (motion blur), có thể do vật chuyển động hoặc tay chụp bị run.
Khi để tốc độ màn trập thấp, chụp sẽ khó bắt chuyển động hơn, dễ bị mờ ảnh hơn, khi không có tripod cố định, hoặc tay chụp run chẳng hạn.

Nhìn chung, chúng ta sẽ cố đẩy tốc độ màn trập lên cao nhất có thể nhưng cũng có một số trường hợp cần để thấp. Ví dụ:
  • Muốn tạo hiệu ứng mờ chuyển động, ví dụ như chụp các dòng chảy, xe đi, các dải màu, muốn tạo hiệu ứng nghệ thuật. Chúng ta để tốc độ màn trập khoảng 1/30 và để khẩu hẹp. Và ví dụ này cũng rất phù hợp khi đổi sang chế độ ưu tiên tốc độ màn trập (để máy tự set khẩu cho ta).
  • Đang thiếu sáng, ta giảm tốc độ màn trập sẽ cho cảm biến có thời gian phơi sáng nhiều hơn.
  • Đang thiếu sáng nhưng cũng không quá cần thiết, chỉ là muốn giảm nhiễu. Vì vậy cần chỉnh ISO thấp và giảm tốc độ màn trập lại để bớt nhiễu, và vẫn có ánh sáng thêm đi vào.

Chốt:
  • Tốc độ màn trập thấp sẽ cho nhiều ánh sáng hơn, và cũng rủi ro bị hiệu ứng mờ chuyển động hơn.
  • Tốc độ màn trập cao sẽ ít bị hiệu ứng mờ, nhưng hy sinh ánh sáng.
ISO
Là một khái niệm kỹ thuật số tương đương với tốc độ của dải phim chụp (ngày xưa).
Ngày trước khi mua phim chụp thường sẽ là phim 100 hay 200 cho chụp ngoài trời, 400 hay 800 cho trong nhà.
Tốc độ phim càng cao thì sẽ càng dễ bị nhạy sáng. Với máy ảnh kĩ thuật số cũng vậy, ISO ~ tốc độ phim, và ta sẽ gọi là chỉ số ISO.




Lợi thế của ISO thấp là ánh sáng sẽ được ghi (phơi) lại chính xác hơn.
Nếu bạn thấy những bức hình chụp ban đêm, ánh sáng thường có vẻ sáng hơn và bị chóa, có thể là do ISO cao - gây nhạy sáng.

ISO cao hữu ích khi muốn lấy rõ các chi tiết ảnh trong trời tối mà không muốn giảm tốc độ màn trập hay mở khẩu, nhưng rủi ro là hình sẽ bị nhiễu.

Các máy ảnh xịn thường sẽ giảm nhiểu khi để ở ISO cao hơn so với máy tầm thấp.
Tuy nhiên cần nhớ: ISO càng cao, ảnh càng dễ bị nhiễu sáng.

Đa số máy ảnh sẽ tự set ISO, kể cả chế độ manual.

TỔNG KẾT
Ở chế độ chụp manual, chúng ta nên nghĩ về 3 yếu tố trên trước khi chụp, có thể loại trừ, tập trung vào một số yếu tố. Trong một số trường hợp đơn giản có thể đổi sang chế độ chụp ưu tiên một yếu tố nào đó.
  • Muốn chụp xóa phông, giảm hiệu ứng độ sâu trường ảnh => Ưu tiên khẩu độ.
  • Diễn đạt ánh sáng chính xác => ISO.
  • Giảm mờ chuyển động => Tốc độ màn trập.

Cuối cùng việc chụp ảnh cơ bản xoay quanh việc điều tiết ánh sáng, ta ưu tiên thiết lập nào sẽ có ưu và nhược thì bù lại (bù sáng) ở các thiết lập khác, gia giảm.




Thứ Hai, 18 tháng 3, 2019

Tập tành chụp ảnh: Vài thành phần của máy ảnh

Mình xin phép chỉ nói về vài thành phần của máy ảnh trong bài viết này.
Bài này nên là bài viết số 1 nằm trong sê-ri 3 bài Tập tành chụp ảnh.



THÂN MÁY (BODY)
Thân máy to/nhỏ sẽ ảnh hưởng và phù hợp riêng với từng người có tay to/nhỏ.
Nó sẽ ảnh hưởng đến thiết kế, cách bố trí nút. Vậy nên tùy cảm nhận của mỗi người cũng như review về cách thiết kế trên từng dòng máy của mỗi hãng mà lựa chọn máy cho phù hợp.
Có sự khác biệt về kích thước body giữa DSLR và Mirroless, Mirroless thường sẽ có kích thước nhỏ hơn, nhẹ hơn, đỡ chảy mồ hôi hơn haha.

ỐNG KÍNH (LENS)



Đây có lẽ là phần biến động nhiều với người chơi chụp ảnh, một số người đi trước thì nhắn nhủ rằng đầu tư một body vừa tầm giá thôi, còn lại thì chơi lens, đổi lens để chiêm nghiệm hay target vào một phong cách chụp nào đó. Và các ảnh còn nhắn là lens thì bán không sợ mất giá lắm, vì có thể tới cả chục năm thì nhà sản xuất mới đưa ra một dòng lens mới, các dòng lens từ đời Tống vẫn có thể xài tốt và bán được.

Tuy nhiên, có một nỗi khổ đó là khâu bảo quản: body và len, đầu tư tủ chuyên dụng hay có các biện pháp cần thiết để tránh ẩm mốc chứ không là đi luôn cả dàn ấy.

Điều đầu tiên, phân biệt giữa ống kính phóng (zoom lens) và ống kính thông thường (prime lens).
Ống kính phóng, cho phép chủ động phóng ra hoặc phóng vào, thường sẽ mắc hơn, nặng và to hơn.

Thứ hai, các loại ống kính góc rộng (wide-angle), tiêu chuẩn (standard), vừa (medium), viễn (telephoto) và siêu viễn (ultra telephoto).
Các thuật ngữ này được đặt dựa vào độ dài tiêu cự của ống kính. Độ dài tiêu cự được tính theo mm, có thể xem nó như là mức độ phóng đại của hình. Giá trị nhỏ thì sẽ như phóng to ra, còn giá trị lớn thì như phóng và thu về (far-in) trong khung hình.

Ống kính góc rộng
Là ống kính có độ dài tiêu cự lên tới 35mm. Ống kính càng to (độ dài tiêu cự càng nhỏ) thì càng thu được (thấy) nhiều góc ảnh hơn.
Ống kính mắt cá (fisheye) có độ dài tiêu cự từ 8 - 10mm.
Loại thông thường thì từ 14 - 28mm.
Cho phép thu được nhiều thứ (vì góc rộng) vào trong một khung hình.

Ống kính tiêu chuẩn
Từ 35 - 50mm, đây cũng là khoảng tiêu cự tương đương với mắt người bình thường.
Trong khi ống góc rộng thường bẻ không gian và hút góc về, tạo hiệu ứng độ sâu. Ống siêu viễn thì sẽ làm phẳng không gian ra. Còn ống tiêu chuẩn sẽ nằm ở giữa, tạo ra những bức hình chân thực.
Thường thì ống 50mm sẽ có mức giá rẻ nhất.

Ống kính vừa
Độ dài tiêu cự từ 60 - 100mm.
Có thể chỉ muốn dùng loại này khi thực sự hiểu rõ và muốn so với ống kính tiêu chuẩn. (Vd loại 60mm và 85mm để chụp ảnh chân dung).
Các loại ống kính phóng có thể phóng từ 28 - 70mm có thể thay thế cho loại ống kính vừa này.

Ống kính viễn
Là khi ta muốn phóng ra thật xa, độ dài tiêu cự > 100mm. Loại siêu viễn là > 400mm.
Loại này cho phép phóng ra tới các vật thể ở xa khi chúng ta không thể lại gần chúng.
Kích thước nặng, dễ gây mờ chuyển động (motion blur), hoạt động không tốt khi thiếu sáng.
Loại này giá không được ổn áp cho lắm :p.

CẢM BIẾN VÀ CPU
Cảm biến là thành phần chịu trách nhiệm ghi lại việc phơi sáng thông qua ống kính, cuối cùng là tạo ra ảnh.
Kích thước cảm biến, cách thức sản xuất sẽ ảnh hưởng đến ảnh đầu ra.

Về kích thước, các loại máy ảnh chụp nhanh (kĩ thuật số, nhắm và chụp/point-and-shoot) sẽ có cảm biến nhỏ.
Tới các loại có thể đổi ống kính được, như DSLR, MILC/CSC/EVIL (mirrorless) thì kích thước cảm biến sẽ có ảnh hưởng khác biệt.
Thông thường thì kích thước lớn sẽ cho phép chụp ảnh thiếu sáng tốt hơn, kiểm soát được độ sâu trường ảnh, ảnh có độ phân giải cao và ít nhiễu hơn so với cảm biến nhỏ.



Đa số các dòng DSLR sẽ có kích thước APS-C. Cảm biến APS-C là tầm khoảng một nửa khung phim 35mm (half-frame) và sẽ nhân kích thước ống kính lên theo hệ số 1.6x.
Nghĩa là khi dùng ống kính 35mm trên DSLR có cảm biến APS-C thì tương đương với ống kính 56mm (35mm x 1.6) trên camera có có khung 35mm thông thường.
Việc nhân hệ số này có thể sẽ hữu ích khi dùng ống kính viễn (vì nó được phóng lên thêm) nhưng không vui lắm với các loại ống kính góc rộng (vì ta đang muốn ống kính góc rộng có độ dài tiêu cự nhỏ mà lại bị nhân lên 1.6 thì sẽ khác biệt so với quảng cáo rồi).
Bởi vậy mới có khái niệm máy DSLR full-frame, lúc này kích thước của ống kính sẽ hầu như không đổi trên khung phim 35mm. Và cái giá của dòng full-frame thì cũng không hề dễ chịu.

Bên cạnh việc chụp các ảnh mẫu để đánh giá chất lượng ảnh nhờ vào các thiết kế cảm biến khác nhau, ta cũng cần quan tâm đến chỉ số megapixel của cảm biến.
Nhìn chung, megapixel càng cao thì độ nhiễu càng cao. Đó là lí do mà ta không cần thiết chọn camera có megapixel cao - đặc biệt là khi dùng trên máy ảnh có cảm biến nhỏ.
Thông thường, một chiếc máy ảnh tầm 6.3 megapixel cũng đủ, hoặc 8 - 10. Mấu chốt là đừng mua máy ảnh chỉ vì megapixel của nó cao. Nó có thể gây nhiễu hình nhiều hơn, thay vào đó hãy test thật kĩ, kiểm tra kích thước, thiết kế cảm biến cũng như các yếu tố khác.

THẺ NHỚ
Máy ảnh bây giờ thường dùng một trong 2 loại thẻ: SD và CompactFlash.
Đối với việc chụp ảnh thông thường thì thẻ SD Class 6 hoặc CompactFlash 133x là đủ.
Khi có nhu cầu quay video thì đòi hỏi tốc độ truy xuất thẻ cao hơn, sẽ là SD Class 10 hoặc CompactFlash 233x.



Đây là bài viết #1 nằm trong sê-ri Tập tành chụp ảnh.
Dịch và rút gọn từ bài viết gốc:  https://lifehacker.com/basics-of-photography-taking-better-photos-by-understa-5813504 theo nghiaht.

Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2019

Tập tành chụp ảnh: Các chế độ chụp

Quy ước một số thuật ngữ trước khi đọc bài này

  • ISO - độ nhạy của cảm biến với ánh sáng
  • Aperture - khẩu độ
  • Shutter speed - tốc độ màn trập

Biết được từng chế độ chụp sẽ giúp đưa ra quyết định nhanh chóng khi chụp ảnh, tập trung được vào đặc tính nào, để cho máy ảnh tự động điều chỉnh phần còn lại, hay hoàn toàn thủ công (manual)...

CÁC CHẾ ĐỘ CHỤP

Hoàn toàn tự động  (Automatic)

Máy ảnh tự động tinh chỉnh các thiết lập. Không có gì để nói thêm, có lẽ chế độ này dùng trong một số trường hợp nhất định, nhanh chóng làm quen với máy ảnh.





Chương trình tự động (Program automatic)

Tự động điều chỉnh khẩu độ và tốc độ màn trập.
Cho phép ta điều chỉnh: ISO (độ nhạy của cảm biến với ánh sáng - giống như tốc độ phim ở máy ảnh ngày xưa).





Chế độ chụp cảnh (Scene modes)

Các chế độ này thường sẽ có các biểu tượng đi kèm để thể hiện rõ mục đích hỗ trợ, chụp cảnh, chụp núi đồi hay chụp thể thao, vật di chuyển nhanh.
Chế độ này có thể hữu ích nếu bạn muốn máy ảnh hỗ trợ chụp các loại ảnh mà nó phù hợp và phục vụ, nhưng có lẽ sau khi đọc bài này và bài nói thêm về chế độ thủ công, bạn sẽ không cần chế độ này lắm.



Ưu tiên màn trập (Shutter priority)

Cho phép ta điều chỉnh tốc độ màn trập và ISO còn máy ảnh thì tự điều chỉnh khẩu độ.
Hữu ích khi muốn tập trung vào tốc độ màn trập lúc cần chụp ảnh, thường là khi chụp chuyển động, không quan tâm đến khẩu độ lắm.
Phù hợp với: ảnh thể thao, nhảy, các hoạt động.




Ưu tiên khẩu độ (Aperture priority)

Cho phép ta điều chỉnh khẩu độ và ISO còn máy ảnh thì tự điều chỉnh tốc độ màn trập.
Hữu ích khi muốn tập trung vào khẩu độ lúc chụp ảnh.
Khẩu độ sẽ tạo ảnh hưởng lớn lên bức ảnh vì nó là một thành tố trong việc tạo hiệu ứng độ sâu trường ảnh (depth of field - DOF).

Khẩu độ lớn/rộng (biểu thị bởi các giá trị f / mẫu số nhỏ, vd: f/1.8, f/2.2) sẽ cho ra ảnh có phần chủ thể phía trước ảnh rất sắc nét nhưng sẽ làm mờ phần phía sau, phần nền, phù hợp với ảnh chân dung, ảnh chụp đơn thể.

Khẩu độ nhỏ/hẹp (biểu thị bởi các giá trị f / mẫu số lớn, vd: f/8) sẽ cho ra ảnh mà hầu hết toàn bộ cảnh vật đều được focus. Phù hợp với ảnh phong cảnh, ảnh hoạt động đời thường khi ta muốn ghi rõ lại tất cả cảnh vật thay vì chỉ focus vào một vài chủ thể và làm mờ phần hậu cảnh phụ.

Khẩu độ được cấu tạo bằng các lá khẩu hình học nằm tại phần trước trước ống kính của body máy, điều chỉnh khẩu lớn - nhỏ bằng cách vặn tay hay chỉnh bằng bấm nút +/- để đóng/mở khẩu. Việc đóng/mở khẩu sẽ giúp kiểm soát được lượng ánh sáng nhiều/ít đi vào máy.
Khẩu độ lớn sẽ cho nhiều ánh sáng đi qua, phù hợp khi ta cần thêm ánh sáng và muốn tránh dùng flash.

Thủ công (Manual)

Sẽ để cho ta điều chỉnh mọi thứ và mình sẽ tách nó ra riêng vào bài sau nhé.
Cần chú ý: chế độ này không liên quan đến việc chỉnh focus thủ công trên máy ảnh DSLR.
Việc chuyển đổi từ focus tự động sang thủ công thường sẽ do một vài công tắc chuyển đổi nằm trên ống kính (lens) chứ không phải trên thân máy. Nếu bạn muốn focus thủ cộng trên máy DSLR, bạn có thể chọn bất kỳ chế độ chụp nào nếu đã bật sang thủ công trên lens trước.

CHẾ ĐỘ FLASH

Theo mình biết thì một số camera có tích hợp flash nhỏ, flash cóc.
Một số người thì tự mua phụ kiện gắn ngoài để hỗ trợ mục đích này.

Flash tự động (Automatic flash)

 
Máy ảnh sẽ tự bật flash khi cần, thường thì nó sẽ xác định dựa vào nguồn sáng của đối tượng chụp. Thường xảy ra khi không đủ sáng trong toàn bộ khung hình hay chủ thể bị ngược sáng...




Flash tự động có giảm hiệu ứng mắt đỏ (Automatic flash with red eye reduction)

Đèn flash khi sáng nó sẽ chớp đèn hồng ngoại đỏ và đá ánh sáng trắng vào và có thể khi chụp người sẽ làm cho người đó bị hiệu ứng mắt đỏ.
Chế độ này như chế độ tự động nhưng sẽ có công nghệ để cố gắng làm giảm hiệu ứng mắt đỏ này.



Flash chủ động (Forced/Fill-in flash)


Luôn bật flash khi chụp






Flash tốc độ màn trập thấp (có giảm hiệu ứng mắt đỏ) (Slow shutter flash, red-eye reduction)

Dùng trong điều kiện thiếu sáng, tốc độ màn trập sẽ được giảm đi và flash sẽ đá liên tục để bù sáng.
Nếu bạn đang dùng chế độ tự động, máy ảnh sẽ tự xác định có cần chế độ này không, còn nếu thực sự muốn thì đổi qua chế độ này luôn.



Không flash

Là tắt đi thui.






Ngoài ra còn có chế độ quay phim (Video mode) tuy nhiên khi sắm máy ảnh để chụp thì chúng ta cố gắng tập trung vào các chế độ hỗ trợ chụp, các khái niệm, thành tố liên quan đến ánh sáng. Còn theo kinh nghiệm của một số người chia sẻ thì hầu như máy ảnh nào cũng có chế độ quay phim như nhau (cho có, và như một tính năng tiêu chuẩn thôi). Tuy nhiên việc áp dụng các khái niệm về khẩu độ có thể sẽ giúp chúng ta có được những thước phim ấn tượng. Hoặc nếu cần thì nên đầu tư hẳn video camera chuyên dụng luôn.

TÓM LẠI, khi là mình trong bài này:

  • Biết được cần tập trung vào yếu tố nào khi chụp ảnh thông qua việc chọn đúng chế độ chụp (nhanh chóng, chính xác).
  • Ưu tiên khẩu độ: tạo (lạm dụng ^^) hiệu ứng độ sâu trường ảnh (DOF) để chụp ảnh xóa phông, sắm các ống kính có khẩu độ lớn (f/ nhỏ) sẽ cho phép khẩu lớn.
  • Ưu tiên tốc độ màn trập: điều chỉnh nó sẽ cho phép ta chụp các bức ảnh có vật chuyển động. Có thể điều chỉnh để chụp các bức ảnh chuyển động ấn tượng (đèn xe di chuyển trong thành phố...)
  • Hầu như chế độ nào cũng cho ta can thiệp chỉnh ISO (độ nhạy sáng) sẽ giúp bức hình sáng hay tối hơn. Tuy nhiên cũng nên đọc thêm bài sau nhé.

Có lẽ chúng ta vẫn còn mơ hồ về khẩu độ, tốc độ màn trập (chỉnh như thế nào, tăng giảm ra sao). Bài sau sẽ là bài nói về chế độ chụp thủ công thì mình sẽ nói rõ hơn. Mình nghĩ chỉ cần thêm một bài nữa là tương đối đủ cho quá trình tiến lên cấp độ sơ khởi khi tập chụp ảnh rồi. Ăn thua còn lại do trình thằng chụp haha.

Bài viết được dịch từ bài viết gốc https://lifehacker.com/basics-of-photography-your-camera-s-automatic-and-assi-5814172 nhưng có sự sàng lọc, chuyển nghĩa theo tầm hiểu biết của nghiaht.

Bài này nằm trong sê-ri 3 bài Tập tành chụp ảnh của mình. Mặc dù cũng chỉ hơi thích chụp ảnh thôi nhưng sẵn dịp viết để lưu lại cách thức tìm tòi và chia sẻ cho một số người cần.